Chuyên đề 1
SỰ THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM, VAI TRÒ LÃNH ĐẠO
CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM VÀ SỰ PHÁT TRIỂN
CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM
I. GỢI Ý TỔ CHỨC SINH HOẠT
- Tổ chức hái hoa dân chủ với các câu hỏi và gợi ý trả lời ở phần II (nội dung chính)
- Truyền thông viên có thể tìm hiểu lịch sử địa phương để bổ sung một số câu hỏi về địa phương, ví dụ:
+ Chi bộ Đảng đầu tiên ở xã (huyện) được thành lập khi nào? Ai là bí thư chi bộ đầu tiên?
+ Chi bộ Đảng đầu tiên đã lãnh đạo phong trào cách mạng ở địa phương như thế nào?
+ Ai là nữ đảng viên đầu tiên của xã (huyện)?
+ Hiện nay ai là bí thư Đảng ủy xã nhà?
II. NỘI DUNG CHÍNH
Câu hỏi 1: Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập khi nào và do ai sáng lập? Nêu tóm tắt ý nghĩa sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam?
Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập vào ngày 3/2/1930 trên cơ sở hợp nhất của 3 tổ chức Cộng sản ở Việt Nam là Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản liên đoàn. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam gắn liền với tên tuổi của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, người sáng lập, lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm kết hợp của chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam; mở ra thời kỳ mới cho cách mạng Việt Nam; khẳng định mục tiêu, xu hướng phát triển của xã hội Việt Nam là kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam tạo tiền đề và nhân tố quyết định đối với thắng lợi của cách mạng Việt Nam
Câu hỏi 2: Hãy nêu ý nghĩa thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 dưới sự lãnh đạo của Đảng ?
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là thành quả tổng hợp của các phong trào cách mạng liên tục dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong 15 năm (1930 - 1945). Thắng lợi này là kết quả của sức mạnh đoàn kết dân tộc quyết tâm đấu tranh xóa bỏ sự thống trị, áp bức của đế quốc gần 100 năm và chế độ phong kiến đã tồn tại hàng nghìn năm, mở ra một kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam: kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Câu hỏi 3: Hãy nêu vắn tắt ý nghĩa thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954) do Đảng lãnh đạo?
Ngày 2/9/1945: Với Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Chỉ 3 tháng sau, thực dân Pháp quay lại xâm lược Việt Nam. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn thể nhân dân Việt Nam đã quyết tâm tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp. Sau 9 năm kháng chiến trường kỳ, chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954 đã chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp ở Việt Nam.
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là bằng chứng sinh động thể hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện đúng đắn và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; có ý nghĩa quốc tế sâu sắc, báo hiệu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ, là tấm gương cổ vũ, động viên các dân tộc thuộc địa bị áp bức trên thế giới đấu tranh giành độc lập dân tộc.
Câu hỏi 4: Nêu vắn tắt vai trò lãnh đạo của Đảng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và kháng chiến chống Mỹ, giành độc lập, thống nhất đất nước trong giai đoạn 1954 - 1975?
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, Việt Nam tạm thời chia làm 2 miền Nam - Bắc tại vĩ tuyến 17. Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng. Ở miền Nam, từ cuối năm 1954, Mỹ dần thay chân Pháp, đưa Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền, âm mưu chia cắt lâu dài nước Việt Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ.
Trong giai đoạn này, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đồng thời tiến hành 2 nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và giải phóng dân tộc ở miền Nam, hoàn thành mục tiêu giải phóng dân tộc trong cả nước, đưa cả nước lên chủ nghĩa xã hội. Sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, trải qua 20 năm bền bỉ, kiên cường, Đảng đã lãnh đạo nhân dân miền Bắc giành được nhiều thắng lợi to lớn: chế độ người bóc lột người bị xoá bỏ, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa bước đầu được xác lập; đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ; làm tròn nhiệm vụ chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam và giúp đỡ cách mạng Lào, Campuchia; phát triển mạnh mẽ giáo dục, văn hoá, y tế; cải thiện nhiều mặt đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân.
Tại miền Nam, thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh ngày 30/4/1975 đã kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo của đường lối chiến tranh nhân dân, độc lập, tự chủ của Đảng Cộng sản Việt Nam, kết hợp mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi này đã mở ra một thời kỳ mới cho dân tộc Việt Nam - thời kỳ cả nước độc lập, thống nhất xây dựng chủ nghĩa xã hội; đánh dấu sự mở đầu thời kỳ sụp đổ của chủ nghĩa thực dân mới, cổ vũ phong trào đấu tranh vì độc lập dân tộc, hòa bình và tiến bộ xã hội.
Câu hỏi 5: Hãy nêu vắn tắt vai trò lãnh đạo của Đảng trong cách mạng xã hội chủ nghĩa giai đoạn 1976 - 1986?
Sau khi thống nhất đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân cả nước bảo vệ và củng cố chính quyền nhân dân ở miền Nam, chiến đấu bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và phía Bắc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế đối với nhân dân Campuchia; xây dựng một số cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, bước đầu hoàn thành những công trình trọng điểm về điện, dầu khí, xi măng, cơ khí, dệt và giao thông, thủy lợi[1]; Từng bước đổi mới cơ chế quản lý, hình thành chủ trương chuyển đổi cơ chế quản lý, từ tập trung, bao cấp, quan liêu, hành chính sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa.
Câu hỏi 6: Hãy nêu tóm tắt một số thành tựu của công cuộc Đổi mới (từ 1986 đến nay) dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đã đề ra đường lối Đổi mới, đặt nền tảng cho việc tìm ra con đường thích hợp đi lên 6 ở Việt Nam.
Sau gần 30 năm, từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, nền kinh tế Việt Nam đã có bước phát triển nhanh theo hướng thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức sở hữu và tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Theo Báo cáo chính trị Đại hội Đảng lần thứ XII, tính từ năm 1986 đến nay, tăng trưởng GDP (Tổng thu nhập quốc nội) bình quân của Việt Nam đạt 6,5%/năm và thuộc nhóm cao nhất thế giới, GDP bình quân đầu người trên 2,050 đô-la, vượt qua ngưỡng một nước chậm phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân được cải thiện đáng kể. Tỷ lệ các hộ nghèo đói giảm từ 58% năm 1993 xuống còn dưới 7% năm 2017; Từ một nước thường xuyên thiếu lương thực, Việt Nam đã trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo đứng hàng đầu thế giới. Đến giữa năm 2018 đã có 3.370 xã đạt chuẩn Nông thôn mới, chiếm 37,76% tổng số xã. Tuổi thọ bình quân tăng, năm 2015 là 73,4 tuổi.
Một số thành tựu nổi bật là:
- Kinh tế tăng trưởng, phát triển, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đẩy mạnh, hội nhập kinh tế quốc tế có bước tiến mới rất quan trọng. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang dần được hoàn thiện.
- Đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt, những vấn đề về phát triển văn hóa, xã hội, con người có nhiều tiến bộ. Mức sống về vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân ở các khu vực ngày càng được nâng cao.
- Chính trị - xã hội ổn định. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam được củng cố và tăng cường.
- Quan hệ quốc tế ngày càng phát triển.
Câu hỏi 7: Hãy nêu quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề bình đẳng giới, phong trào phụ nữ và công tác phụ nữ?
Từ khi thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm lãnh đạo công tác phụ nữ và thực hiện mục tiêu bình đẳng giới. Ngay trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng năm 1930, vấn đề giải phóng phụ nữ, nam nữ bình quyền đã được xác định là một trong những mục tiêu quan trọng trong sự nghiệp cách mạng và khẳng định: Giải phóng phụ nữ phải gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc.
Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đánh giá cao vai trò của lực lượng phụ nữ, quan tâm lãnh đạo thực hiện vận động phụ nữ tham gia sự nghiệp cách mạng và công tác xã hội, chăm lo đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nữ và xây dựng, phát triển tổ chức phụ nữ.
Trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết, luật pháp, chính sách về công tác phụ nữ:
- Quyết định 163-HĐBT (năm 1988) của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành bản quy định trách nhiệm của các cấp chính quyền trong việc đảm bảo cho các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tham gia quản lý nhà nước.
- Nghị quyết 04-NQ/TW của Bộ Chính trị (năm 1993) về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới, với mục tiêu: “Cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người phụ nữ, nâng cao địa vị xã hội, nâng cao nhận thức về quyền bình đẳng của phụ nữ”.
- Chỉ thị 37-CT/TW của Ban Bí thư (năm 1994) về công tác cán bộ nữ trong tình hình mới đã khẳng định: “Chống những biểu hiện lệch lạc coi thường phụ nữ, khắt khe, hẹp hòi trong đánh giá, đề bạt cán bộ nữ” và chủ trương “hình thành các chính sách để phát triển kỹ năng của phụ nữ, xây dựng kế hoạch tập huấn cho cán bộ nữ, tăng số phụ nữ có việc làm…”
- Luật Bình đẳng giới ngày 29/11/2006 khẳng định nguyên tắc “Thực hiện bình đẳng giới là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân”.
- Nghị định số 19/2003/NĐ-CP (năm 2003) của Chính phủ quy định trách nhiệm của cơ quan hành chính nhà nước các cấp trong việc bảo đảm cho các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tham gia quản lý nhà nước.
- Nghị quyết 11-NQ/TW của Bộ Chính trị (năm 2007) về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã khẳng định: “Phát huy vai trò, tiềm năng to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao địa vị phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới trên mọi lĩnh vực là một trong những nhiệm vụ và mục tiêu quan trọng của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới”.
- Nghị định số 56/2012/NĐ-CP của Chính phủ (năm 2012) quy định trách nhiệm của Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp trong việc bảo đảm cho các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tham gia quản lý nhà nước.
- Kết luận số 55-KL/TW của Ban Bí thư ngày 18/01/2013 về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa X “Về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.
- Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới.
- Chỉ thị 21-CT/TW ngày 20/01/2018 của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình mới, trong đó nội dung của Chỉ thị tiếp tục khẳng định: “Công tác phụ nữ là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và của từng gia đình. Xây dựng và phát triển vững chắc đội ngũ cán bộ nữ là yêu cầu khách quan, là nội dung quan trọng trong chiến lược công tác cán bộ của Đảng...”. Chỉ thị 21-CT/TW là sự tiếp tục các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết 11- NQ/TW, song việc nhấn mạnh các nhiệm vụ trọng tâm với các giải pháp cụ thể chính là điểm mới cần được cấp ủy, tổ chức đảng, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể nhận thức sâu sắc để triển khai một cách nghiêm túc và mạnh mẽ.
Chuyên đề 2
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHỤ NỮ VIỆT NAM
I. GỢI Ý TỔ CHỨC SINH HOẠT
Cách 1:
- Truyền thông viên thuyết trình phần II (nội dung chính)
- Sau mỗi nội dung, hướng dẫn hội viên thảo luận các việc làm cụ thể để làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác.
Cách 2:
- Truyền thông viên kể một câu chuyện về Bác (xem phụ lục hoặc sưu tầm thêm ở sách, báo).
- Giới thiệu một nội dung trong phần II (nội dung chính) có liên quan đến câu chuyện vừa kể.
- Hướng dẫn hội viên thảo luận các việc làm cụ thể để làm theo tư tưởng, đạo đức phong cách của Bác.
Cách 3:
- Truyền thông viên viết ra giấy một số câu nói hoặc lời căn dặn của Bác với phụ nữ.
- Mời một hội viên đọc hoặc truyền thông đọc.
- Hướng dẫn hội viên thảo luận cách thực hiện lời dặn của Bác.
II. NỘI DUNG CHÍNH
Câu hỏi 1: Hãy nêu những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh?
Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại. Những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh là: Tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; Tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; Tư tưởng về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc; Tư tưởng về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân; Tư tưởng về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; Tư tưởng về phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa to lớn đối với cách mạng Việt Nam. Cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng ta, soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng ta và dân tộc ta. Vấn đề phụ nữ, bình đẳng nam nữ được thể hiện ở tất cả các khía cạnh trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, từ vấn đề giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, con người cho đến tư tưởng về sức mạnh của nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, phát triển kinh tế, văn hóa v.v.
Câu hỏi 2: Chủ tịch Hồ Chí Minh có quan điểm như thế nào về vai trò của phụ nữ và bình đẳng giới?
- Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của Phụ nữ: Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao vị trí, vai trò và những cống hiến của phụ nữ Việt Nam trong cách mạng. Người khẳng định phụ nữ chính là lực lượng cách mạng to lớn, góp phần làm nên sức mạnh, thành công của mọi cuộc cách mạng xã hội. Phụ nữ không chỉ là lực lượng đông đảo của cách mạng, mà còn có khả năng làm được mọi việc không kém gì nam giới, họ có vai trò quyết định đến sự thành công của mọi cuộc cách mạng. Vì vậy, Người đã đặt niềm tin to lớn vào khả năng của phụ nữ: “An Nam cách mệnh cũng phải có nữ giới tham gia mới thành công”[2].
Vấn đề phụ nữ đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập đến trong tác phẩm Đường Kách mệnh (năm 1927). Trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và đặc biệt là sau khi có Đảng Cộng sản Việt Nam, các phong trào yêu nước của phụ nữ Việt Nam đã dẫn đến sự ra đời một tổ chức riêng của phụ nữ, đó là Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Đây là một tổ chức chính trị - xã hội của một giới chưa từng có trong lịch sử dân tộc, một lực lượng cách mạng hùng hậu của chiến tranh nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong dịp kỷ niệm lần thứ 30 năm ngày thành lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ghi nhận đóng góp quan trọng của tổ chức Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, đồng thời giao nhiệm vụ: “Hội Liên hiệp Phụ nữ phải là lực lượng mạnh mẽ giúp Đảng động viên, tổ chức và lãnh đạo phụ nữ tiến lên chủ nghĩa xã hội"[3].
- Quan điểm của Hồ Chí Minh về bình đẳng giới: Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phụ nữ bình đẳng với nam giới trên cả hai mặt: nghĩa vụ và quyền lợi, chị em thực sự trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh mình, cùng nam giới chung lo bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Người chỉ ra rằng: công bằng cho phụ nữ không có nghĩa là chia đều công việc cho họ mà công bằng chính là sự phân công một cách hợp lý công việc đến từng người, tùy theo khả năng, hoàn cảnh cá nhân và sức khỏe. Sự bình đẳng phải được thể hiện trên mọi mặt, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.
Về chính trị, bình đẳng về chính trị có nghĩa là người phụ nữ trước hết được trang bị về mặt lý luận, tạo điều kiện cho họ chủ động, tự tin, tự lực, tự cường, tự giải phóng cho chính họ; sau đó là sự đảm bảo cho họ quyền tham gia các hoạt động chính trị, trở thành cán bộ lãnh đạo, quản lý một cách bình đẳng với nam giới; đồng thời, đảm bảo quyền ngôn luận, đi lại, bầu cử, ứng cử, cư trú và quyền bình đẳng trước pháp luật…
Về kinh tế, bình đẳng là thực sự tạo ra cơ hội cho người phụ nữ có việc làm, có thu nhập như nam giới, bình đẳng với nam giới trong quan hệ tài sản… Tư tưởng đó của Người đã được khẳng định trong Điều 5 Hiến pháp năm 1946: “Tất cả mọi công dân đều ngang quyền về kinh tế”.
Về lĩnh vực văn hoá, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: sự dốt nát còn nguy hiểm hơn giặc ngoại xâm, “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Trong lời kêu gọi chống nạn thất học tháng 10/1945, Người nói rõ: “Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ… Phụ nữ lại cần phải học, đã lâu chị em bị kìm hãm. Đây là lúc chị em phải cố gắng để theo kịp nam giới, để xứng đáng mình là phần tử trong nước, có quyền bầu cử và ứng cử”[4].
Người khẳng định học tập để nâng cao trình độ văn hoá sẽ giúp chị em nắm được những vấn đề lịch sử, địa lý, khoa học, tự nhiên, xã hội, chính trị, nghĩa vụ và quyền lợi của công dân; Có văn hoá, một mặt chị em sẽ tự tin vươn lên làm chủ về mọi mặt một cách vững chắc, thoát khỏi sự lệ thuộc của những tư tưởng phong kiến hà khắc trói buộc, đồng thời có thể cống hiến tài năng, trí tuệ cho nhân loại và đất nước.
Về lĩnh vực xã hội, Người chỉ ra rằng, muốn thực hiện bình đẳng nam nữ trước hết là phải giải phóng phụ nữ ra khỏi những trói buộc của tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, ra khỏi sự bất công ngay từ trong gia đình họ. Người quan niệm vai trò của phụ nữ trong xã hội được thể hiện chính từ vai trò của họ trong gia đình vì gia đình chính là tế bào của xã hội. Do vậy, ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo xây dựng Hiến pháp và Luật Hôn nhân Gia đình. Người nhiều lần bày tỏ chính kiến trước công luận là phải tiêu diệt tư tưởng phong kiến và đầu óc gia trưởng, tư tưởng tư sản, trọng nam khinh nữ. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người rất tích cực đóng góp xây dựng Luật hôn nhân và gia đình và luôn theo dõi việc thực hiện đạo luật đó, vì theo Người, “Luật lấy vợ, lấy chồng nhằm giải phóng phụ nữ, tức là giải phóng phần nửa xã hội”. Người phê phán tình trạng chồng đánh vợ và khẳng định đây là tệ nạn về mặt đạo đức và vi phạm pháp luật, vi “Đàn ông là người công dân, đàn bà cũng là người công dân, dù là vợ chồng, người công dân này đánh người công dân khác tức là phạm pháp”.
Câu hỏi 3: Hãy nêu quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ?
- Giải phóng phụ nữ là một nhiệm vụ tất yếu của cách mạng vô sản ở Việt Nam.
Theo Bác: “Nói phụ nữ là nói một nửa xã hội, nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội một nửa”[5]. Trong nhiệm vụ giải phóng dân tộc thực hiện cách mạng vô sản, đánh đổ chế độ thực dân phong kiến của những người cộng sản Việt Nam thì vấn đề giải phóng phụ nữ là nội dung tất yếu nằm trong xu thế chung của cách mạng, song đồng thời nó có một ý nghĩa đặc biệt đối với một giới mà hàng trăm năm nay chịu những đối xử, phân biệt bất công và bị bóc lột nặng nề.
Trong nhận thức tư tưởng và chỉ đạo hoạt động thực tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh không tách rời vấn đề giải phóng phụ nữ ra khỏi nhiệm vụ giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Người cũng ý thức sâu sắc giải phóng phụ nữ không chỉ là nhu cầu khách quan mà còn là cuộc cách mạng to và khó ngay cả sau khi đất nước đã tự do, độc lập.
- Giải phóng phụ nữ là sự nghiệp của bản thân phụ nữ, của toàn Đảng, toàn dân và toàn xã hội.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, điều quyết định cuối cùng cho công cuộc giải phóng phụ nữ lại chính là chị em. Chính sự tự thân vận động, sự nỗ lực vươn lên trong học tập và công tác của chính chị em phụ nữ mới có thể đưa đến sự thành công của công cuộc giải phóng phụ nữ. Bác đã nhiều lần nhắc nhở chị em phải có ý thức tự giải phóng mình, Người viết: “Về phần mình, chị em phụ nữ không nên ngồi chờ Chính phủ, chờ Đảng ra chỉ thị giải phóng cho mình, mà mình phải tự cường, tự đấu tranh”. Đặc biệt, Bác căn dặn chị em phải biết vượt qua chính mình, khắc phục những hạn chế của chính chị em, quyết tâm học tập và vươn lên, Người viết: “Phụ nữ ta còn một số nhược điểm như bỡ ngỡ, lúng túng, tự ti, thiếu tin tưởng vào khả năng của mình; mặt khác phụ nữ cũng gặp nhiều khó khăn về gia đình, con cái. Muốn giải quyết khó khăn không nên ỷ lại vào Đảng, Chính phủ mà phải quyết tâm học tập, phát huy sáng kiến, tin tưởng ở khả năng của mình, nâng cao tinh thần tập thể đoàn kết, giúp đỡ nhau để giải quyết mọi khó khăn của phụ nữ trong công tác chính quyền”.
Giải phóng phụ nữ theo Hồ Chí Minh, không những là trách nhiệm của Đảng và chính quyền mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội. Người chủ trương giáo dục tất cả cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân có nhận thức đúng đắn về vai trò và địa vị phụ nữ trong xã hội, xóa bỏ tư tưởng trọng nam khinh nữ.
Câu hỏi 4: Chủ tịch Hồ Chí Minh có quan điểm thế nào về xây dựng đội ngũ cán bộ nữ và công tác phụ nữ?
Theo Bác, xây dựng đội ngũ cán bộ nữ và công tác cán bộ nữ là nhiệm vụ hết sức quan trọng. Vì cán bộ nữ là người hiểu rõ nhất tâm tư tình cảm cũng như những khả năng, những hạn chế của chị em phụ nữ, từ đó tập hợp, tổ chức các chị em lại tham gia đông đảo, nhiệt tình vào các phong trào. Cán bộ nữ là sợi dây nối liền giữa Đảng, Nhà nước với các chị em phụ nữ, từ đó có thể đem những chủ trương chính sách của Đảng phổ biến tới quần chúng phụ nữ một cách dễ hiểu nhất, phản ánh những nguyện vọng, yêu cầu của đông đảo quần chúng tới các cấp lãnh đạo một cách đầy đủ nhất. Không chỉ quan tâm đến phụ nữ ở thành thị, Người còn lưu ý đến đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở miền núi, vùng sâu vùng xa; yêu cầu các cấp lãnh đạo phải có chủ trương, biện pháp bảo vệ sức khoẻ phụ nữ.
Quan tâm đến công tác cán bộ nữ, Người rất chú trọng đến việc bồi dưỡng cho phụ nữ một cách nhìn mới, một nếp suy nghĩ mới để giúp chị em một mặt khắc phục được những nhược điểm của giới, mặt khác nhận thức được khả năng, trách nhiệm làm chủ của mình trong xã hội cả về mặt quyền lợi và nghĩa vụ. Người dặn dò chị em mở rộng giới hạn tình cảm gia đình ra một phạm vi rộng lớn hơn, gắn liền với tình yêu giai cấp, tình yêu đồng bào, tình cảm quốc tế vô sản.
Trong bài phát biểu tại Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ 3 năm 1961, Người nhấn mạnh: “Mỗi một người và tất cả phụ nữ phải hăng hái nhận lấy trách nhiệm làm chủ đất nước, tức là phải ra sức thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm để xây dựng nước nhà, xây dựng chủ nghĩa xã hội”[6]. Người nhắc nhở: “Muốn làm tròn nhiệm vụ vẻ vang đó, phụ nữ ta phải xoá bỏ cái tâm lý tự ti và ỷ lại, phải có ý chí tự cường, tự lập; phải nâng cao lên mãi trình độ chính trị, văn hoá, kỹ thuật”[7]; theo Bác, muốn làm cách mạng thì lòng mình, tư tưởng mình phải cách mạng.
Trong việc cất nhắc đề bạt phụ nữ, Người mong muốn: “Có cất nhắc phụ nữ nhưng chưa mạnh dạn, tức là còn phần nào chưa coi trọng trí tuệ, tài năng của phụ nữ. Vậy phụ nữ phải làm sao cho người ta thấy phụ nữ giỏi, lúc đó cán bộ không cất nhắc, anh chị em công nhân sẽ cử mình lên”[8]. Mong muốn đó thể hiện yêu cầu đối với cán bộ quản lý là phải khuyến khích, tạo điều kiện để cán bộ nữ phát huy ưu điểm, nhưng đồng thời cũng đòi hỏi phụ nữ phải thể hiện được năng lực, khả năng của mình.
Câu hỏi 5: Những nội dung chính trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh?
Theo Bác, đạo đức cách mạng phải là phẩm chất đầu tiên, giống như “sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức…”[9]. Người cũng cho rằng “Tuy năng lực và công việc của mỗi người khác nhau, người làm việc to, người làm việc nhỏ; nhưng ai giữ được đạo đức đều là người cao thượng”[10].
Những chuẩn mực đạo đức cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh gồm:
- Trung với nước, hiếu với dân, quyết tâm phấn đấu hy sinh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội:
- Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư:
+ Cần là siêng năng, chăm chỉ, đúng giờ, chu đáo để không ngừng nâng cao năng suất lao động. Tục ngữ có câu “ Nước chảy, đá mòn” cho thấy cần sẽ đem đến hiệu quả, là đức tính cần có ở mỗi người. Người nghiêm khắc phê phán ”Người lười biếng là có tội với đồng bào, với Tổ quốc”.
+ Kiệm là tiết kiệm, không xa xỉ, không lãng phí, không bừa bãi. Kiệm để tích trữ thêm vốn, mở rộng sản xuất.
+ Liêm là trong sạch, không tham lam. Người từng viết: “Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một tộc văn minh tiến bộ”.
+ Chính là không tà, là thẳng thắn, đứng đắn, là thiện.
Theo Hồ Chí Minh, cần, kiệm, liêm, chính là những đức tính không thể thiếu của mỗi con người, cũng như trời có bốn mùa, đất có bốn phương, Người đã viết:
“Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc
Người có bốn đức: Cần, kiệm, liêm, chính.
Thiếu một mùa thì không thành trời.
Thiếu một phương thì không thành đất.
Thiếu một đức thì không thành người”.
+ Chí công vô tư là ham làm những việc ích quốc lợi dân, không ham danh lợi, không vì lợi ích cá nhân mà làm hại lợi ích dân tộc.
- Tinh thần quốc tế cao cả, trong sáng: Người coi tình đoàn kết quốc tế, gắn kết giữa các dân tộc, các nước trên thế giới là điều thiêng liêng.
Câu hỏi 6: Quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ?
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ những dấu hiệu suy thoái về tư tưởng chính trị, trước hết là những biểu hiện phai nhạt lý tưởng cách mạng. Điều này dẫn đến tình trạng, nhiều người không có lý tưởng sống, không có chính kiến, khó phân biệt đúng sai. Bởi lý tưởng sống là mục tiêu hướng đến của mỗi con người, là động lực giúp con người vươn tới những hoài bão lớn, những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Nhờ có lý tưởng sống mà con người có thái độ tích cực trong nhận thức, quyết tâm trong ý chí và hành động. Người chỉ rõ những người “Nghe những lời bình luận không đúng, cũng làm thinh, không biện bác. Thậm chí nghe những lời phản cách mạng cũng không báo cáo cho cấp trên biết. Ai nói sao, ai làm gì cũng mặc kệ” thì cần phải chấn chỉnh, bởi thái độ sống và làm việc thiếu tích cực và thiếu trách nhiệm. Người khẳng định ý nghĩa, tầm quan trọng của việc chủ động, tự giác học tập nội dung chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà Nước. Bởi đó là những định hướng lớn, những vấn đề quan trọng liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích và nghĩa vụ của mỗi công dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ mỗi người cần tự giác phê bình và tự phê bình, tránh tình trạng phê phán người khác thì dễ còn bản thân mình không không muốn ai đụng chạm đến hoặc nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh: “Có đồng chí đáng phải trừng phạt, nhưng vì cảm tình nể nang chỉ phê bình, cảnh cáo qua loa cho xong chuyện. Thậm chí có nơi còn che đậy cho nhau, tha thứ lẫn nhau, giấu giếm đoàn thể. Thi hành kỷ luật như vậy làm cho các đồng chí không những không biết sửa lỗi mình mà còn khinh thường kỷ luật. Tai hại hơn nữa nếu kỷ luật của đoàn thể lỏng lẻo, những phần tử phản động sẽ có cơ hội chui vào hàng ngũ ta để phá hoại đoàn thể ta”.
Người phê phán những biểu hiện duy ý chí, áp dặt, bảo thủ, chỉ làm theo ý mình; không chịu học tập, lắng nghe, tiếp thu ý kiến hợp lý của người khác: “Tự cho mình là cái gì cũng giỏi,việc gì cũng biết”. “Tự kiêu tức là cho mình việc gì cũng thạo, cũng làm được. việc gì mong cũng giỏi hơn mọi người. Mình là thần thánh, không cần học ai, hỏi ai”.
Người quyết liệt phê phán những lối sống ích kỷ, tư lợi, hủ hóa và gọi đó là các căn bệnh: “Bệnh hẹp hòi”, “Bệnh cận thị”, “Bệnh tham lam”. Ngay từ đầu năm 1948, khi nhà nước cách mạng còn hết sức non trẻ, gặp muôn vàn khó khăn, Người đã chỉ ra cần phải đấu tranh với những vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây mất đoàn kết nội bộ; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức; cục bộ, bè phái, kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền; độc đoán, gia trưởng, thiếu dân chủ trong chỉ đạo, điều hành. Người giải thích về “Địa phương chủ nghĩa”, đó là: “chỉ chăm chú lợi ích của địa phương mình mà không nhìn đến lợi ích của toàn bộ. Làm việc ở bộ phận nào chỉ biết bênh vực vun đắp cho bộ phận ấy. Do khuyết điểm ấy mà sinh ra những việc, xem qua thì như không quan hệ gì mấy, kỳ thực rất có hại cho kế hoạch chung”. Điều này không chỉ mỗi cá nhân trong tập thể mà còn nhắc nhở mỗi người trong cộng đồng nên nghĩ đến lợi ích chung để cùng xây dựng môi trường xã hội công bằng, lành mạnh, minh bạch, tránh tình trạng nhiều gia đình dọn sạch rác nhà mình đẩy ra đường để mặc ô nhiễm môi trường sống của cộng đồng xung quanh.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng sớm yêu cầu chống các biểu hiện thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân; những biểu hiện gây lãng phí, thất thoát tài chính, tài sản, ngân sách nhà nước, đất đai, tài nguyên… Người cũng kiên quyết đấu tranh chống tham ô, lãng phí, lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấu kết với các đối tượng khác để trục lợi.
Nguyên nhân của những biểu hiên suy thoái có rất nhiều, nhưng chủ yếu là do chủ nghĩa cá nhân sinh ra. Theo Hồ Chí Minh: “Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí. Nó trói buộc, nó bịt mắt những nạn nhân của nó, những người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm rèn luyện đạo đức cho cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên. Người luôn coi trọng cả đức lẫn tài, trong đó đức là gốc. Nước lấy dân làm gốc, đạo đức là cái gốc của người cách mạng, của con người. Cuộc đời và nhân cách của Người là tấm gương mẫu mực cho các thế hệ con cháu noi theo.
Câu hỏi 7: Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tinh thần đại đoàn kết?
Sinh thời, Người đã luôn nhắc nhở những bài thơ học về tinh thần yêu nước, về lịch sử nước nhà, lòng yêu quên hương, đạo lý làm người, tình đồng bào ruột thịt đùm bọc lẫn nhau đúng với truyền thống của dân tộc “máu chảy ruột mềm”.
Người khẳng định lực lượng cách mạng trước hết là khối đại đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, bao gồm tất cả các giai cấp, các dân tộc, tôn giáo, các đoàn thể, cá nhân yêu nước, các thành viên đều có điểm chung là thành tâm yêu nước.
Người chỉ ra rằng trong mối quan hệ đoàn kết thì sự thống nhất trong Đảng có ý nghĩa quyết định thắng lợi của khối đoàn kết toàn dân và có mối quan hệ biện chứng với nhau, đó là “ chỉ đoàn kết trong Đảng, cách mạng cũng không thành công được, còn phải đoàn kết nhân dân cả nước…”[11].
Theo Hồ Chí Minh “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”, muốn có khối đại đoàn kết toàn dân cần có sự tập hợp mọi tầng lớp nhân dân bằng cách giáo dục, thuyết phục, vận động tập hợp quần chúng thông qua các hình thức phù hợp. Người cũng nhắc nhở toàn Đảng, toàn quân, toàn dân phải thường xuyên tiến hành phê bình và tự phê bình ở trong Đảng, ở các cơ quan, các đoàn thể, trên báo chí cho đến nhân dân; phê bình và tự phê bình phải thường xuyên, thiết thực, dân chủ, từ trên xuống và từ dưới lên; phê bình và tự phê trên tinh thần đồng chí, có lý có tình, giúp nhau cùng tiến bộ, trong đó tự phê phải là chính.
Tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh bao hàm cả việc không ngừng mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế.
Câu hỏi 8: Hãy nêu một số nội dung cơ bản trong phong cách làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
- Phong cách dân chủ, quần chúng: Theo Hồ Chí Minh, không khí dân chủ thực sự trong nội bộ phải dược tạo ra bằng cách thành tâm lắng nghe và khơi gợi cho cán bộ, đảng viên, quần chúng, cấp dưới nói hết quan điểm, ý kiến của mình. Có như vậy, cấp dưới, quần chúng mới hăng hái đề ra sáng kiến, “học hỏi sáng kiến của quần chúng để lãnh đạo quần chúng”[12]. Những sáng kiến đó được coi trọng, được khen ngợi thì những người có sáng kiến càng thêm hăng hái làm việc. Phong cách dân chủ không chỉ khơi nguồn sáng tạo, phát huy tinh thần làm việc, cống hiến của cấp dưới và quần chúng trong các cơ quan, đơn vị mà ngay cả trong mỗi gia đình, mỗi cộng đồng cũng đều có ý nghĩa tương tự. Có như vậy mới phát huy được trí tuệ của tập thể, kinh nghiệm của nhiều người. Phong cách dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh là dân chủ có định hướng, có lãnh đạo, dân chủ phải đi đến sự tập trung, không phải dân chủ vô tổ chức.
Phong cách dân chủ yêu cầu người cán bộ, đảng viên phải tin yêu, tôn trọng con người, chú ý lắng nghe ý kiến và giải quyết kiến nghị chính đáng của quần chúng, sẵn sàng tiếp thu phê bình và sửa chữa khuyết điểm của mình.
- Phong cách khoa học: Phong cách làm việc khoa học đòi hỏi khi xem xét và quyết định mọi việc đều phải điều tra, nghiên cứu, phân tích kỹ thông tin, quy trình. Người chỉ ra rằng: “Gặp mỗi vấn đề, ta phải đặt câu hỏi: Vì sao có vấn đề này? Xử trí như thế này, kết quả sẽ ra sao ? Phải suy tính kỹ lưỡng. Chớ hấp tấp, chớ làm bừa, chớ làm liều. Chớ gặp sao làm vậy”[13].
Phong cách làm việc khoa học của Hồ Chí Minh là làm việc phải có mục đích và kế hoạch rõ ràng, thiết thực; là phải biết quý trọng thời gian, biết giờ nào làm việc ấy và có năng lực giải quyết công việc một cách tốt nhất trong thời gian ngắn nhất. Người từng nói: “Thời giờ cũng cần phải tiết kiệm như của cải. Của cải nếu hết, còn có thể làm thêm. Khi thời giờ đã qua rồi, không bao giờ kéo nó trở lại được…”[14].
Phong cách làm việc khoa học còn phải biết nhìn xa, trông rộng, không để mắc vào “Bệnh cận thị”[15], không vì lợi ích nhỏ mà tổn hại đến lợi ích lớn lao, lâu dài. Phong cách làm việc khoa học còn phải biết kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm để ngày càng tiến bộ.
- Phong cách nêu gương: Theo Hồ Chí Minh, phong cách nêu gương gắn liền với phẩm chất đạo đức cách mạng của mỗi người. Muốn nêu gương được thì nói phải đi đôi với làm, thống nhất trong lời nói và hành động, điều này sẽ mang lại được lòng tin và sự tôn trọng. Phong cách nêu gương không chỉ cần thiết đối với mỗi cán bộ, đảng viên mà trong mỗi gia đình, ông bà là tấm gương cho các cháu, cha mẹ phải là tấm gương cho các con, anh chị là tấm gương cho các em. Trong nhà trường, thầy cô giáo là tấm gương cho học trò. Trong cơ quan, cán bộ lãnh đạo là tấm gương cho cấp dưới. Mỗi người đều phải tự rèn luyện, tu dưỡng bản thân trở thành những tấm gương cho mọi người noi theo, có thế mới tăng thêm điều đúng, điều thiện, chống lại thói hư, tật xấu.
Câu hỏi 9: Hội viên, phụ nữ cần làm gì để học tập và làm theo tấm gương tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh?
1. Hội viên, phụ nữ cần rèn luyện:
- Rèn luyện các phẩm chất đạo đức: "Tự tin, Tự trọng, Trung hậu, Đảm đang", cụ thể là
+ Hiểu rõ lý do cần rèn luyện và nội dung của từng phẩm chất: Tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang.
+ Ở các vị trí công việc, luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, tích cực học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ về mọi mặt để đáp ứng yêu cầu của giai đoạn hội nhập quốc tế và cách mạng công nghiệp lần thứ 4; là tấm gương cho con cháu phát huy tinh thần hiếu học của dân tộc;
+ Xác định điểm mạnh, điểm yếu của bản thân mình để phát huy các điểm mạnh, khắc phục các hạn chế trong quá trình phấn đấu, rèn luyện, phẩm chất đạo đức; luôn làm gương cho con và những người khác trong gia đình, cộng đồng về rèn luyện 4 phẩm chất đạo đức.
- Tiếp tục thực hành tiết kiệm theo Bác
+ Hưởng ứng đợt thi đua “Làm theo Bác, thực hành tiết kiệm giúp nhau giảm nghèo bền vững”, mỗi hội viên, phụ nữ chủ động tiết kiệm, tạo nguồn vốn cho chính gia đình mình và giúp những chị em đang gặp khó khăn trong cộng đồng để phát triển sản xuất. Chị em có thể tiết kiệm tại các chi/tổ phụ nữ nơi mình tham gia sinh hoạt; tại nhóm phụ nữ tiết kiệm tín dụng, các tổ/nhóm hùn vốn quay vòng do Hội chỉ đạo hoặc tại Ngân hàng Chính sách xã hội. Ngoài tiết kiệm bằng tiền, chị em còn có thể tiết kiệm, chống lãng phí trong sản xuất, công tác và trong sinh hoạt như tiết kiệm nguyên liệu sản xuất, tiết kiệm điện, nước, tiết kiệm thời gian bằng cách tham dự hội, họp đúng giờ, giảm ăn uống lãng phí trong tang ma, cưới hỏi...
+ Phát huy tinh thần yêu nước, tinh thần tự trọng, tự tôn dân tộc, thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân; tự giác chấp hành và vận động người thân trong gia đình, mọi người trong cộng đồng chấp hành chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; quy định, quy ước, hương ước của địa phương, dòng tộc.
+ Cần cù, sáng tạo trong lao động, sản xuất; áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, công việc; biết làm giàu chính đáng cho bản thân, gia đình và quê hương đất nước.
+ Phát huy truyền thống nhân hậu của người Việt Nam, sẵn sàng chia sẻ, động viên, giúp đỡ người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn, những người mắc tệ nạn, tội phạm đang hoà nhập cộng đồng để họ có thể khắc phục hoàn cảnh, vươn lên, phát triển kinh tế và có cuộc sống tốt.
+ Bồi đắp kiến thức, kỹ năng gắn kết các thành viên trong gia đình, vận động các thành viên trong gia đình tích cực học tập, lao động, sản xuất phát triển kinh tế, cùng nhau tạo dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc;
+ Hăng hái tham gia các phong trào, hoạt động tại cộng đồng; tham gia thực hiện phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc” và các cuộc vận động của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, đặc biệt là Cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch”…
2. Đối với một số nhóm phụ nữ cụ thể cần:
2.1. Nữ cán bộ lãnh đạo, công chức, viên chức:
- Không ngừng học hỏi, rèn luyện kỹ năng lãnh đạo, quản lý, điều hành; tích cực rèn luyện và xây dựng phương pháp, phong cách làm việc khoa học, hiệu quả, chuyên nghiệp; Chủ động xây dựng kế hoạch công việc khoa học, hiệu quả phù hợp với thực tiễn.
- Tự giác chấp hành và chủ động phổ biến cho người lao động, nhân dân các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đấu tranh chống lại các biểu hiện tha hóa về đạo đức, nhân cách, lối sống trong gia đình, đơn vị và cộng đồng; Luôn có tinh thần nêu gương trong các phong trào thi đua yêu nước.
- Luôn có tinh thần đoàn kết, gắn bó để xây dựng tập thể vững mạnh; tạo điều kiện để mỗi cá nhân đều phát huy được thế mạnh của mình góp phần thúc đẩy đơn vị/tổ chức phát triển.
- Chủ động nắm bắt tình hình, diễn biến tâm tư của người lao động, nhân dân kịp thời phát hiện các vấn đề tiêu cực nảy sinh để tuyên truyền, vận động nhân dân không tham gia tụ tập, khiếu kiện đông người.
- Xây dựng kỹ năng quản lý thời gian, cân bằng cảm xúc, sự căng thẳng do áp lực công việc; Xây dựng nếp sống văn hóa trong gia đình, cơ quan, cộng đồng, xã hội.
2.2. Nữ công nhân, người lao động:
- Tự tin vào khả năng sáng tạo, năng lực chuyên môn trong công việc; luôn suy nghĩ, tìm cách cải tiến kỹ thuật, áp dụng thành tựu khoa học nâng cao năng suất lao động, có tác phong làm việc khoa học, hiệu quả.
- Khẳng định vai trò, vị trí trong công việc, nỗ lực hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; Chủ động tìm hiểu chính sách, pháp luật; tự giác chấp hành pháp luật, nội quy, quy định của cơ quan, đơn vị; Không tham gia đình công, bãi công, biểu tình, khiếu kiện đông người.
- Xây dựng nếp sống văn hóa trong gia đình, cơ quan, cộng đồng, xã hội. Tích cực lao động để đóng góp vào thu nhập gia đình.
2.3. Nữ nông dân:
- Tự tin khẳng định vai trò chủ thể trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, chủ thể của chương trình xây dựng nông thôn mới.
- Cần cù, năng động, sáng tạo trong lao động sản xuất. Tích cực học tập để lĩnh hội kiến thức mới, mạnh dạn ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đúc rút những kinh nghiệm hay trong sản xuất, chăn nuôi.
- Trung thực trong sản xuất: Đảm bảo đúng quy trình, vệ sinh, an toàn thực phẩm để tăng giá trị chất lượng sản phẩm.
- Có lối sống mẫu mực, chấp hành nghiêm túc mọi quy định, quy ước, hương ước của làng xã.
- Sử dụng tiết kiệm, hợp lý tài nguyên đất, nước, các nguyên vật liệu sản xuất, tham gia bảo vệ môi trường.
2.4. Nữ thanh niên:
- Sống có mục tiêu, lý tưởng, hoài bão, khát khao vươn tới cái mới, cái tiến bộ nuôi dưỡng tinh thần khát khao cống hiến cho đất nước, cho tập thể, cho xã hội. Giàu lòng yêu nước, tự cường dân tộc, kiên định lý tưởng độc lập dân tộc.
- Tích cực học tập, trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ của bản thân; Cần cù, sáng tạo trong lao động, công tác; Tích cực trang bị các kỹ năng mềm cần thiết như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng đặt mục tiêu, kỹ năng quản trị bản thân, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng tổ chức công việc và quản lý thời gian, kỹ năng giải quyết vấn đề ...
- Rèn luyện bản lĩnh, vượt qua những cám dỗ và tiêu cực xã hội, xung kích trong các phong trào thi đua yêu nước.
- Biết sống vì mọi người, sẵn sàng giúp đỡ người khác đặc biệt là các thành viên trong gia đình; là tấm gương cho các em nhỏ noi theo.
2.5. Nữ tiểu thương:
- Luôn năng động, quyết đoán, mạnh dạn đầu tư, sáng tạo trong hoạt động kinh doanh; chủ động rèn luyện kỹ năng quản lý, tìm hiểu pháp luật, xu thế phát triển của xã hội và thời đại;
- Giữ uy tín, bán hàng có nguồn gốc, đảm bảo chất lượng, số lượng và giá cả; Nâng cao trách nhiệm xã hội, phát hiện, tố giác các đường dây buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng; Chủ động tham gia bảo vệ môi trường và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong quá trình kinh doanh;
- Ưu tiên tiêu thụ, kinh doanh, sử dụng các sản phẩm của Việt Nam; Thể hiện nét đẹp trong văn hóa kinh doanh: văn minh, lịch sự với khách hàng.
2.6. Phụ nữ có đạo:
- Xây dựng lối sống tốt đời đẹp đạo; thường xuyên theo dõi tin tức, thời sự, cập nhật thông tin để hiểu đúng, tôn trọng và chấp hành pháp luật, quy định của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương.
- Không tham gia tụ tập, khiếu kiện đông người; tích cực tuyên truyền vận động các tín đồ thực hiện nếp sống văn minh, bài trừ các hủ tục lạc hậu.
- Tích cực tham gia các hoạt động sản xuất, phát triển kinh tế gia đình;
2.7. Phụ nữ đồng bào dân tộc thiểu số:
- Tích cực giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc; bài trừ các hủ tục lạc hậu, chấm dứt tình trạng hôn nhân cận huyết thống, tảo hôn.
- Tích cực học để sử dụng thành thạo tiếng phổ thông; động viên con cháu trong gia đình tích cực học tập, lao động sản xuất để phát triển kinh tế gia đình, nâng cao chất lượng cuộc sống.
- Chủ động rèn luyện năng lực bản thân, hướng tới sự tiến bộ.
2.8. Nhóm phụ nữ di cư trong nước:
- Tin vào khả năng, sức lao động, kinh nghiệm công việc của mình;
- Tham gia các hoạt động ở địa phương nơi chuyển đến, xây dựng mối quan hệ tốt với hàng xóm; duy trì mối quan hệ gia đình gắn bó với người thân ở quê hương (thăm hỏi, động viên cha mẹ; dạy dỗ, giáo dục con cái…);
- Biết tiết kiệm, chi tiêu hợp lý; chủ động nắm bắt các thông tin, nâng cao kỹ năng phòng, chống các tiêu cực của xã hội do di cư tác động.
2.9. Nhóm phụ nữ di cư ở nước ngoài:
- Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc; phát huy lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, không tham gia, hưởng ứng các hoạt động làm ảnh hưởng đất nước, đến mối quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và nước đang sinh sống;
- Tham gia xây dựng quê hương Việt Nam bằng nhiều hình thức: Tích cực học tập, nghiên cứu, lao động, sản xuất, kinh doanh…; Quảng bá, chia sẻ với bạn bè quốc tế về nét đẹp của quê hương và con người Việt Nam; Hỗ trợ, đầu tư các hoạt động phát triển tại quê hương;
- Tìm hiểu và tôn trọng luật pháp nước sở tại; Tích cực hỗ trợ, tham gia vào các hoạt động của người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
2.10. Nhóm phụ nữ yếu thế (phụ nữ bị bạo lực, bị buôn bán, phụ nữ hoàn lương…):
- Tự tin, hòa đồng với mọi người; Nhận thức được giá trị của bản thân để tích cực rèn luyện, học tập, lao động, thể hiện vai trò của mình trong xã hội.
- Có ý thức phấn đấu vươn lên, tự giác rèn luyện bản thân, có lối sống lành mạnh; tích cực tìm sinh kế, chủ động tìm việc làm, tạo thu nhập cho bản thân và gia đình, giúp đỡ những người cùng cảnh ngộ ổn định cuộc sống.
- Tích cực tham gia các hoạt động cộng đồng, tham gia công tác tuyên truyền phòng ngừa tội phạm, tệ nạn xã hội trong cộng đồng; Mạnh dạn tố cáo, ngăn chặn hoặc tìm sự trợ giúp nếu bản thân hoặc người xung quanh bị bạo hành, mua bán...