Tài liệu tuyên truyền kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2014) và 25 năm Ngày Hội quốc phòng toàn dân (22/12/1989 - 22/12/2014)

Ngày đăng: 01-11-2014 - Tài liệu sinh hoạt hội viên

Năm 2014, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tổ chức trọng thể kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2014) và 25 năm Ngày Hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1989 - 22/12/2014). Trải qua 70 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự nuôi dưỡng và đùm bọc của nhân dân, Quân đội nhân dân Việt Nam với truyền thống chiến đấu và chiến thắng oanh liệt, đã góp phần làm rạng rỡ thêm truyền thống anh hùng của dân tộc ta.

Kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 25 năm Ngày Hội Quốc phòng toàn dân là dịp chúng ta ôn lại truyền thống anh hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam, một quân đội cách mạng do Đảng và Bác Hồ sáng lập, rèn luyện, một quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu nhằm khơi dậy và phát huy truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ý chí quyết chiến, quyết thắng và tinh thần sáng tạo của quân và dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

I- QUÁ TRÌNH RA ĐỜI, CHIẾN ĐẤU, XÂY DỰNG VÀ TRƯỞNG THÀNH CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

1- Quá trình ra đời của Quân đội nhân dân Việt Nam

Ngay từ khi ra đời (3/2/1930), Đảng ta đã khẳng định con đường giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc là dùng bạo lực cách mạng để giành chính quyền và tất yếu phải tổ chức lực lượng vũ trang cách mạng để làm nòng cốt cho toàn dân tiến hành đấu tranh cách mạng. Trong phong trào cách mạng những năm 1930 - 1931, từ lực lượng khởi nghĩa của công nông trong cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, Đội tự vệ công nông (Tự vệ đỏ) đã ra đời. Đó là mầm mống đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng, của quân đội cách mạng Việt Nam.

Tháng 9/1939, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, cách mạng Việt Nam chuyển hướng chiến lược, đặt nhiệm vụ trọng tâm vào giải phóng dân tộc, tích cực chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Trong phong trào đánh Pháp đuổi Nhật, các cuộc khởi nghĩa từng phần và chiến tranh du kích cục bộ đã diễn ra trên nhiều địa phương. Hàng loạt tổ chức vũ trang được thành lập như đội du kích Bắc Sơn, du kích Nam Kỳ, Cứu quốc quân…

Sự phát triển mạnh mẽ, rộng khắp của phong trào đấu tranh trong quần chúng nhân dân và sự trưởng thành nhanh chóng của các tổ chức vũ trang quần chúng đòi hỏi lúc này phải có một đội quân chủ lực thống nhất về mặt tổ chức để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng giải phóng dân tộc. Sau một thời gian khẩn trương chuẩn bị, ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập tại châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng theo Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thực hiện Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Trận đầu nhất định phải thắng”. Ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ra quân đánh thắng trận đầu tiên vào đồn Phai Khắt thuộc tổng Kim Mã, châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng; tiếp đó, ngày 26/12/1944, tiêu diệt đồn Nà Ngần (cách Phai Khắt 15km về phía Đông Bắc). Đây là hai trận đánh đầu tiên thể hiện sự gan dạ, mưu trí, tinh thần triệt để chấp hành mệnh lệnh trong chiến đấu của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Hai trận thắng có tiếng vang lớn, cổ vũ phong trào cách mạng trong khu căn cứ Cao - Bắc - Lạng, mở đầu truyền thống quyết chiến, quyết thắng, biết đánh và biết thắng, đánh thắng ngay trận đầu của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trước yêu cầu của cách mạng trong tình hình mới, tháng 4/1945, Hội nghị quân sự Bắc Kỳ của Đảng quyết định hợp nhất các tổ chức vũ trang trên cả nước thành Việt Nam giải phóng quân.

Năm 1945, thời cơ nhân dân Việt Nam vùng lên giành độc lập đã đến, cả nước sôi sục khí thế cách mạng. Trung ương Đảng quyết định phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Theo lệnh Tổng khởi nghĩa của Trung ương Đảng, Việt Nam giải phóng quân cùng với lực lượng vũ trang các địa phương và nhân dân cả nước tiến hành tổng khởi nghĩa thắng lợi giành chính quyền trên toàn quốc. Cách mạng Tháng Tám thành công, Việt Nam giải phóng quân được đổi tên thành vệ quốc quân, rồi thành Quân đội quốc gia Việt Nam và đến năm 1950 được đổi tên là Quân đội nhân dân Việt Nam cho đến ngày nay.

Ngày 22/12/1944, ngày thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được Đảng và Nhà nước quyết định lấy làm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngày 17/10/1989, thể theo nguyện vọng của nhân dân trong cả nước, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VI) quyết định lấy Ngày kỷ niệm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944), đồng thời là Ngày Hội Quốc phòng toàn dân.

2- Quân đội nhân dân Việt Nam chiến đấu, xây dựng và trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954)

Cách mạng Tháng Tám vừa giành được thắng lợi, quân và dân ta lại đứng trước những khó khăn chồng chất, đặc biệt là chống giặc ngoại xâm. Thực dân Pháp với bản chất ngoan cố, chưa cam chịu thất bại, ngày 23/9/1945 đã trắng trợn gây hấn ở Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai.

Đêm 19 rạng ngày 20/12/1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Mở đầu ở Hà Nội, với tinh thần “Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”, các chiến sĩ Vệ quốc quân, Công an xung phong, tự vệ chiến đấu đã anh dũng đánh địch. Cùng với Hà Nội, quân và dân ta ở nhiều địa phương cũng tiến công tiêu diệt và vây hãm quân địch, tạo điều kiện cho cả nước chuyển vào kháng chiến lâu dài.

Trong năm 1947, thực dân Pháp mở nhiều cuộc tiến công lớn trên Việt Bắc hòng tiêu diệt cơ quan lãnh đạo kháng chiến và bộ đội chủ lực của ta, kết thúc “chớp nhoáng” cuộc chiến tranh xâm lược. Quân và dân ta liên tiếp đánh chặn và phản công tiêu diệt địch ở khắp nơi, nổi bật là trận Bình Ca (Tuyên Quang), Bông Lau (Cao Bằng), Đoan Hùng, Khu Lau trên sông Lô… Đây là những thắng lợi quy mô lớn đầu tiên của quân và dân ta, làm phá sản chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp, đưa cuộc kháng chiến của quân và dân ta chuyển sang giai đoạn mới.

Tháng 6/1950, ta mở chiến dịch Biên giới, nhằm mục đích tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng một phần biên giới, mở đường thông sang các nước xã hội chủ nghĩa anh em, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc. Trong thế trận chiến tranh nhân dân phát triển, ta đã kìm giữ, phân tán lực lượng địch, tạo điều kiện cho bộ đội chủ lực mở những chiến dịch tiến công và phản công, lập chiến công oanh liệt ở Tây Bắc, Hòa Bình, đồng bằng Bắc Bộ, Bình Trị Thiên, Tây Nguyên, Liên khu 5, Nam bộ, Thượng Lào…

Vừa chiến đấu, vừa xây dựng lực lượng, quân đội ta đã có bước trưởng thành nhanh chóng. Từ Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân với những trang bị thô sơ, quy mô nhỏ bé, đến những năm 1950 - 1952, quân đội ta đã xây dựng được các sư đoàn, đại đoàn chủ lực và lần lượt hình thành các binh chủng kỹ thuật, từ đó quân đội ta đã lớn mạnh cả về quy mô và khả năng tác chiến.

Trước những thay đổi trong cục diện chiến tranh ở Đông Dương và trên cơ sở đánh giá so sánh lực lượng giữa ta và địch, tháng 9/1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954. Với các đòn tiến công chiến lược, ta đã tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng đất đai rộng lớn và làm phá sản âm mưu tập trung lực lượng cơ động của kế hoạch Na - va, buộc chúng phải căng ra đối phó ở khắp mọi nơi, ta hoàn toàn nắm quyền chủ động, kế hoạch Na - va bắt đầu bị phá sản.

Trước thời cơ thuận lợi, tháng 12/1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Sau ba đợt tấn công từ ngày 13/3/1954 đến 17 giờ 30 phút ngày 7/5/1954, chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, lá cờ “Quyết chiến, Quyết thắng” của quân đội ta tung bay trên nóc hầm chỉ huy của địch.

Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ toàn thắng, kết thúc oanh liệt cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954 của quân và dân ta. Đây là cuộc tiến công chiến lược lớn nhất của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã đánh sập dã tâm xâm lược nước ta của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đưa đến việc ký Hiệp định Giơneve về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương, buộc thực dân Pháp phải công nhận độc lập dân tộc, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam.

3- Quân đội nhân dân Việt Nam chiến đấu, xây dựng và trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975)

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ đã mở ra một giai đoạn phát triển mới của cách mạng Việt Nam. Miền Bắc hoàn toàn giải phóng và bước vào thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đánh đuổi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, đấu tranh thống nhất đất nước.

Ngay sau khi thực dân Pháp thua trận, đế quốc Mỹ ráo riết thực hiện âm mưu hất cẳng Pháp, xâm lược và thống trị bằng chủ nghĩa thực dân mới, xây dựng miền Nam thành căn cứ quân sự của Mỹ, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta. Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới, quân đội nhân dân phải là “Trụ cột bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình”, Đảng ta quyết định xây dựng quân đội nhân dân thành một quân đội cách mạng, chính quy, hiện đại. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ 1954 - 1960 quân đội ta đã có bước trưởng thành mới, từ lực lượng chủ yếu là bộ binh, tổ chức chưa thật thống nhất, trang bị còn thiếu thốn, trở thành quân đội chính quy, ngày càng hiện đại, gồm các quân chủng: Lục quân, Hải quân, Phòng không - Không quân. Đây là bước trưởng thành rất quan trọng của quân đội ta, tạo cơ sở để bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Ở miền Nam, trong những năm 1954 - 1960, Mỹ - Diệm thực hiện chính sách khủng bố tàn bạo. Trước tình hình đó, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương cách mạng miền Nam phải chuyển sang đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quần chúng cách mạng có sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang đã vùng lên khởi nghĩa giành chính quyền ở nhiều vùng nông thôn. Phong trào "Đồng Khởi" giành chính quyền ở Bến Tre đã nhanh chóng lan rộng ra nhiều tỉnh ở Nam bộ, Khu 5, Tây Nguyên... tạo thành các vùng căn cứ rộng lớn. Nhiều đơn vị dân quân, du kích và bộ đội địa phương được thành lập. Trong những năm 1961 - 1964, quân và dân miền Nam đã giành thắng lợi vang dội trên các chiến trường. Điển hình là chiến thắng "Ấp Bắc", chiến thắng Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài, đánh bại hoàn toàn chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của Mỹ - ngụy.

Năm 1964, nhằm hạn chế những tổn thất và cứu nguy cho thất bại ở chiến trường miền Nam, sau khi dựng lên sự kiện "Vịnh Bắc Bộ", ngày 5/8/1964, đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân lần thứ nhất, hòng ngăn chặn sự chi viện của hậu phương miền Bắc cho tiền tuyến miền Nam. Các đơn vị hải quân, phòng không, dân quân tự vệ đã nâng cao cảnh giác, hiệp đồng chặt chẽ, mưu trí dũng cảm, chiến đấu kiên cường, bắn rơi 8 máy bay của địch. Trận đầu đánh thắng không quân Mỹ đã cổ vũ quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược của quân và dân cả nước. Ngày 5/8/1964 trở thành Ngày truyền thống đánh thắng trận đầu cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của Hải quân và Phòng không - Không quân nhân dân Việt Nam.

Năm 1965, đế quốc Mỹ đưa quân cùng một khối lượng lớn phương tiện chiến tranh vào trực tiếp tham chiến trên chiến trường miền Nam Việt Nam. Trước tình hình đó, Trung ương Đảng đã chỉ thị cho các lực lượng vũ trang trên chiến trường miền Nam vừa xây dựng lực lượng, vừa chiến đấu, bẻ gãy nhiều cuộc hành quân quy mô lớn của Mỹ - ngụy. Điển hình là trận thắng Mỹ ở Vạn Tường (8/1965), thắng lợi của các chiến dịch Plâyme (11/1965), Bầu Bàng - Dầu Tiếng (11/1965) và các chiến công vang dội đập tan hai cuộc phản công chiến lược mùa khô (1965 - 1966, 1966 - 1967) của Mỹ ở miền Nam.

Giữa lúc cuộc chiến tranh leo thang của đế quốc Mỹ đến đỉnh cao nhất, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 trên toàn chiến trường miền Nam, đồng thời đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất đã làm đảo lộn thế chiến lược trên chiến trường. Tổng thống Mỹ Giôn xơn buộc phải tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc và chấp nhận đàm phán với ta tại Hội nghị Pari. Nhưng với bản chất ngoan cố và hiếu chiến, đế quốc Mỹ không cam chịu thất bại, từ năm 1969 chúng chuyển sang thực hiện "Học thuyết Ních xơn" và chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", đồng thời thực hiện "Chiến tranh đặc biệt tăng cường ở Lào, mở rộng chiến tranh sang Campuchia. Quân và dân ta đã phối hợp chặt chẽ với cuộc chiến tranh của nhân dân Lào, Campuchia anh em, giành những thắng lợi to lớn trên chiến trường ba nước Đông Dương, tiêu biểu là chiến dịch Đường 9 Nam Lào (1971).

Năm 1972, đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh đánh phá miền Bắc lần thứ hai với quy mô lớn, ác liệt hơn lần trước. Một lần nữa quân và dân ta đã anh dũng chiến đấu, trừng trị đích đáng giặc Mỹ, đặc biệt là đánh bại cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B-52 của địch vào Hà Nội, làm nên một "Điện Biên Phủ trên không", buộc chính phủ Mỹ phải tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc và nối lại cuộc đàm phán Pari. Thắng lợi to lớn của quân và dân miền Bắc đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ, cùng với những thắng lợi của quân và dân ta trên khắp các chiến trường miền Nam đã buộc đế quốc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pari về Việt Nam (27/1/1973), cam kết tôn trọng độc lập, thống nhất chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, chấm dứt dính líu về quân sự, rút hết quân Mỹ về nước.

Trải qua 70 năm chiến đấu và xây dựng, quân đội ta đã không ngừng trưởng thành, vững mạnh toàn diện cả về tư tưởng và tổ chức. Lực lượng vũ trang nhân dân gồm ba thứ quân: Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích phát triển mạnh mẽ. Để giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chúng ta phải tập trung xây dựng một lực lượng quân đội hùng mạnh với quy mô tổ chức cao hơn. Trong hai năm 1973 - 1974, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã quyết định thành lập các quân đoàn chủ lực, đánh dấu bước phát triển mới của Quân đội nhân dân Việt Nam cả về quy mô tổ chức và trang bị vũ khí. Quân đội ta có khả năng mở các chiến dịch tiến công lớn bằng lực lượng binh chủng hợp thành quy mô lớn trên các hướng chiến lược và khả năng tiêu diệt địch với lực lượng lớn.

Sau khi Hiệp định Pari được ký kết, đế quốc Mỹ với bản chất ngoan cố vẫn chưa từ bỏ âm mưu duy trì chế độ thực dân mới, chia cắt lâu dài đất nước ta, tiếp tục viện trợ quân sự cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu chống phá sự nghiệp thống nhất đất nước của nhân dân ta. Trước những âm mưu và hành động mới của Mỹ - ngụy, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào", Trung ương Đảng đã chỉ rõ sự xuất hiện thời cơ lịch sử và nêu quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam, đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh thực dân mới của Mỹ bằng Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975.

Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, từ tháng 3/1975, quân đội ta mở chiến dịch Tây Nguyên, giải phóng thị xã Buôn Ma Thuật, mở đầu Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Phát huy thắng lợi trên các mặt trận, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Hồ Chí Minh nhằm giải phóng Sài Gòn và toàn miền Nam với tinh thần "Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng". Vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975 chiến dịch Hồ Chí Minh đã toàn thắng, cờ Tổ quốc tung bay trên nóc Dinh Độc lập, miền Nam hoàn toàn giải phóng.

Chiến dịch Hồ Chí Minh là chiến dịch có quy mô lớn nhất, giành thắng lợi to lớn nhất của quân và dân ta. Chiến dịch thể hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo tài tình, sáng suốt của Đảng ta, đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của Quân đội nhân dân Việt Nam cả về tổ chức lực lượng và trình độ chỉ huy chiến đấu của nghệ thuật quân sự Việt Nam, góp phần quyết định kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

4- Quân đội nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (1975 - 2014)

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã mở ra một giai đoạn mới của cách mạng Việt Nam, giai đoạn cả nước cùng thực hiện chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đất nước thống nhất, quân đội ta chuyển từ nhiệm vụ thời chiến sang thực hiện nhiệm vụ xây dựng và sẵn sàng chiến đấu trong thời bình. Nhiệm vụ hàng đầu đặt ra cho quân và dân ta lúc này là phải nhanh chóng củng cố các vùng giải phóng, khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục sản xuất, ổn định đời sống của nhân dân.

Quân đội ta đã tích cực tham gia xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng cơ sở ở vùng giải phóng, tổ chức quản huấn binh lính, nhân viên của chế độ cũ, trấn áp các phần tử và tổ chức phản động, truy quét tàn quân địch và Fulro, tích cực tham gia cải tạo tư sản công thương nghiệp, bài trừ các tệ nạn xã hội, góp phần ổn định đời sống nhân dân. Trên mặt trận xây dựng kinh tế, các đơn vị quân đội được giao nhiệm vụ làm kinh tế đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong lao động, chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, đảm nhiệm xây dựng các công trình kinh tế, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với quốc phòng. Những thành tựu của quân và dân ta đạt được trong những năm đầu xây dựng đất nước thống nhất đã góp phần ổn định đất nước và tăng thêm sức mạnh bảo vệ Tổ quốc.

Trong khi nhân dân cả nước đang ra sức khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định đời sống và tập trung phát triển kinh tế, văn hóa xã hội; các thế lực thù địch vẫn không từ bỏ âm mưu chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Đất nước lại đứng trước nguy cơ vừa có hòa bình, vừa có chiến tranh. Trước tình hình phức tạp mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đã đánh thắng hai cuộc chiến tranh xâm lược biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả ở Campuchia. Thắng lợi của quân và dân ta trong hai cuộc chiến tranh biên giới bảo vệ Tổ quốc một lần nữa khẳng định bản chất cách mạng của "Bộ đội Cụ Hồ", dù trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào khi được Đảng, nhân dân giao nhiệm vụ cũng quyết tâm hoàn thành xuất sắc.

Từ năm 1986 đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đã thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến rất phức tạp. Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, phản động điên cuồng chống phá phong trào cách mạng thế giới. Chúng coi Việt Nam là một trong những trọng điểm chống phá, bao vây cô lập hòng làm suy yếu ta. Chúng thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Trong nước, một số phần tử phản động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền… móc nối với một số phần tử cơ hội bất mãn đưa ra những yêu sách chính trị, kích động, chia rẽ, chống phá ta quyết liệt.

Trong bối cảnh phức tạp đó, quân đội ta đã tỏ rõ bản lĩnh chính trị, vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với lý tưởng cách mạng xã hội chủ nghĩa, phát huy cao độ tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, cùng với toàn dân thực hiện sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng quân đội chính quy tinh nhuệ, từng bước hiện đại, củng cố nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trong thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, quân đội ta đã nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, chủ động và kiên quyết thực hiện tốt nhiệm vụ hàng đầu là chống chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ, kịp thời phát hiện, ngăn chặn và làm thất bại mọi âm mưu và hành động phá hoại của các thế lực thù địch, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.

Trong nhiệm vụ xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, quân đội ta đã giữ vững vị trí, vai trò là lực lượng nòng cốt và tích cực tham gia có hiệu quả vào công cuộc xây dựng nền quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân, làm tròn chức năng tham mưu cho Đảng và Nhà nước trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng nền quốc phòng toàn dân.

Trong xây dựng lực lượng, quân đội ta đã tập trung nâng cao một bước chất lượng và sức mạnh chiến đấu theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, luôn đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng vững mạnh về chính trị làm cơ sở để xây dựng quân đội ta vững mạnh toàn diện.

 Trong xây dựng, phát triển kinh tế, quân đội ta đã đạt được những thành tựu mới trên các lĩnh vực: nghiên cứu khoa học, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trong lĩnh vực quốc phòng; tham gia các chương trình phát triển kinh tế, xã hội vùng miền núi, biên giới, hải đảo; các doanh nghiệp quân đội không ngừng đổi mới, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trường, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Những thành tích to lớn của quân đội ta đạt được trong những năm đổi mới vừa qua đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, làm thay đổi căn bản thế và lực của đất nước ta trên trường quốc tế và khu vực.

II- TRUYỀN THỐNG VẺ VANG CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM ANH HÙNG

Trải qua 70 năm vừa chiến đấu gian khổ, vừa xây dựng và trưởng thành dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, được sự nuôi dưỡng và giúp đỡ của nhân dân, quân đội ta không ngừng phát huy bản chất cách mạng tốt đẹp, xây đắp nên truyền thống vẻ vang "Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng". Truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng đã kết tinh thành giá trị và biểu tượng "Bộ đội Cụ Hồ", đó là:

1- Quân đội ta luôn luôn trung thành vô hạn với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, với Đảng, với nhân dân

Quân đội nhân dân Việt Nam là đội quân vũ trang cách mạng tin cậy của Đảng, Nhà nước và của nhân dân; quân đội ta luôn trung thành vô hạn với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân, chiến đấu vì mục tiêu lý tưởng cao cả của Đảng, của dân tộc là giành độc lập, tự do cho Tổ quốc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước Việt Nam. Vì vậy, kiên định mục tiêu, con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, quân đội ta quyết tâm thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, gắn bó mật thiết với nhân dân.

Quân đội ta lấy mục tiêu cách mạng do Đảng đề ra làm lý tưởng và mục tiêu phấn đấu của mình. Kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối quan điểm của Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng của nhân dân; quân đội ta luôn luôn kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của mình. Nhờ vậy, quân đội ta có được nền tảng chính trị, tư tưởng vững chắc làm cơ sở xây dựng sức mạnh về mọi mặt, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược và đập tan mọi âm mưu, hành động phá hoại của kẻ thù, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo.

2- Quân đội ta là quân đội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, gắn bó máu thịt với nhân dân

Quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu đã trở thành mục tiêu và phương châm hành động của cán bộ và chiến sĩ trong quân đội. Đó là biểu hiện của sự giác ngộ về mục tiêu và lý tưởng chiến đấu, trách nhiệm chính trị của quân đội đối với nhân dân. Biểu hiện lòng biết ơn sâu sắc, công lao to lớn của nhân dân đối với quân đội. Cán bộ và chiến sĩ luôn sẵn sàng chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, chiến đấu và hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa chính là bảo vệ lợi ích của nhân dân.

Quân đội ta biết dựa vào nhân dân mà chiến đấu, mà xây dựng và trưởng thành nên đã vượt qua mọi khó khăn và lập nhiều chiến công to lớn. Cán bộ và chiến sĩ quân đội ta luôn luôn coi việc tôn trọng và bảo vệ lợi ích của nhân dân, tích cực lao động sản xuất, tham gia xây dựng kinh tế để góp phần nâng cao dần đời sống của nhân dân là biểu hiện sinh động bản chất cách mạng của quân đội ta, quân đội của nhân dân lao động, đó cũng là trách nhiệm và nghĩa vụ của quân đội ta.

3- Quân đội ta vừa có tinh thần quyết chiến, quyết thắng, vừa biết đánh và biết thắng

Truyền thống quyết chiến, quyết thắng, biết đánh và biết thắng, kiên cường, dũng cảm, mưu trí và sáng tạo của quân đội ta bắt nguồn từ bản chất cách mạng của Đảng ta, niềm tin tuyệt đối vào sự tất thắng của cách mạng và tiền đồ của dân tộc, vào sức mạnh vô địch của nhân dân ta, là kế thừa tài thao lược, mưu trí sáng tạo và phát huy truyền thống quật cường, bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc, là sự kết tinh chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân.

Quán triệt đường lối, quan điểm, tư tưởng quân sự của Đảng, phát huy sức mạnh tổng hợp của nhân dân, quân đội ta luôn luôn đánh địch trên thế chủ động, tiến công và làm chủ. Quân đội ta đã thực hiện tốt phương châm "vừa chiến đấu, vừa xây dựng", càng đánh càng mạnh, càng trưởng thành, càng thắng lợi.

Tinh thần quyết chiến, quyết thắng của quân đội ta được thể hiện cả trong việc hăng say học tập để không ngừng nâng cao trình độ giác ngộ cách mạng, phát triển khoa học, nghệ thuật quân sự Việt Nam, nắm vững khoa học, kỹ thuật quân sự hiện đại; phát huy tinh thần sáng tạo trong nghiên cứu khoa học, phát minh, sáng chế, cải tiến kỹ thuật nhằm phát huy mọi thế mạnh của ta.

Tinh thần quyết chiến, quyết thắng, biết đánh và biết thắng còn được thể hiện cả trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Trong công tác hàng ngày, khi tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, làm bất cứ nhiệm vụ gì, trong hoàn cảnh nào, cán bộ và chiến sĩ đều dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, cần cù, kiên trì, bền bỉ, đem hết tinh thần, nghị lực, trí tuệ và tài năng, ý chí khắc phục mọi khó khăn, kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ.

4- Quân đội ta có tinh thần đoàn kết nội bộ chặt chẽ và ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm minh

Đoàn kết nội bộ chặt chẽ là một yếu tố cơ bản tạo nên sức mạnh tổng hợp của quân đội ta. Kế thừa truyền thống đại đoàn kết dân tộc, tinh thần làm chủ vận mệnh đất nước của dân tộc ta trong mấy nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, cán bộ và chiến sĩ luôn thương yêu nhau như ruột thịt, trên dưới một lòng, chấp hành kỷ luật nghiêm minh của quân đội.

Tinh thần đoàn kết chiến đấu của quân đội ta dựa trên cơ sở đường lối, chính sách của Đảng và chức năng, nhiệm vụ của quân đội trên cơ sở tình thương yêu, gắn bó giữa những người đồng chí cùng chiến đấu và hy sinh cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của dân tộc. Toàn quân đoàn kết thành một khối vững chắc, thống nhất ý chí, thống nhất hành động, hết lòng thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, gắn bó, hiệp đồng chặt chẽ, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ.

Quân đội ta có kỷ luật tự giác và nghiêm minh, dù trong hoàn cảnh nào cán bộ và chiến sĩ đều tự giác giữ vững kỷ luật, chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Trong chiến đấu, công tác, động sản xuất cũng như khi tiếp xúc với nhân dân, cán bộ và chiến sĩ triệt để chấp hành mệnh lệnh, chỉ thị, điều lệnh, điều lệ quân đội, kiên quyết hoàn thành mọi nhiệm vụ.

5- Quân đội ta không chỉ là đội quân chiến đấu giỏi mà còn là đội quân công tác giỏi, đội quân làm kinh tế giỏi

Trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập, kháng chiến chống giặc ngoại xâm trước đây cũng như trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, quân đội ta không chỉ biết chiến đấu và chiến thắng mà còn tích cực tham gia công tác xã hội, lao động sản xuất kinh doanh giỏi; tỏ rõ bản chất cách mạng của đội quân luôn luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Đảng và nhân dân giao phó trong mọi tình huống.

Quân đội ta tham gia tích cực xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, củng cố quốc phòng an ninh ở các địa phương miền núi, biên giới, hải đảo, vùng căn cứ cách mạng; tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; tham gia xây dựng và củng cố chính quyền cơ sở.

Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp quân đội đã đóng góp nhiều hàng hóa phục vụ đời sống xã hội, hoàn thành nhiều công trình trọng điểm của đất nước, góp phần vào sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân; đồng thời phục vụ tốt sự nghiệp quốc phòng, nâng cao sức mạnh và khả năng sẵn sàng chiến đấu của quân đội.

Trong thời kỳ chiến tranh, quân đội cùng với nhân dân đã tham gia thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội, ngày nay đang tích cực tham gia thực hiện các chương trình xã hội: xóa đói giảm nghèo, đóng góp xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa; tham gia giúp dân xóa mù chữ ở vùng sâu, vùng xa... Truyền thống tốt đẹp đó của quân đội ta ngày càng được phát huy trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần vào việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế, xã hội thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

6- Quân đội ta luôn nêu cao tinh thần đoàn kết quốc tế cao cả, chí nghĩa, chí tình

Thấm nhuần đường lối, quan điểm cách mạng của Đảng, chính sách đối ngoại rộng mở của Nhà nước ta, gắn liền chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản, quân đội ta luôn tăng cường tình đoàn kết gắn bó với quân đội và nhân dân các nước Lào, Campuchia trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm trước đây, cũng như với quân đội và nhân dân nhiều nước trên thế giới hiện nay, góp phần xây dựng tình đoàn kết hữu nghị giữa các dân tộc.

Trong mỗi bước trưởng thành của mình, quân đội ta luôn coi trọng những kinh nghiệm xây dựng và chiến đấu của quân đội các nước anh em, bè bạn, khiêm tốn học tập những kinh nghiệm tiên tiến và vận dụng sáng tạo các kinh nghiệm đó, đồng thời cũng đóng góp những kinh nghiệm của mình với quân đội các nước anh em, bè bạn.

Ngày nay, trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến phức tạp, quân đội ta hơn lúc nào hết càng phải phát huy bản chất cách mạng, phẩm chất cao quý "Bộ đội Cụ Hồ", kiên trì xây dựng, phát triển mối quan hệ đoàn kết hữu nghị với quân đội và nhân dân các nước, phấn đấu vì mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

III- PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG "BỘ ĐỘI CỤ HỒ" XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN, XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU, NHIỆM VỤ CÁCH MẠNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực đang có những diễn biến phức tạp: chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động khủng bố, đe dọa khủng bố... xảy ra ở nhiều nơi với tính chất phức tạp ngày càng tăng. Trong nước, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, chúng ta cũng gặp không ít những khó khăn, thách thức mới. Các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ; bốn nguy cơ vẫn tồn tại và diễn biến phức tạp, đan xen tác động lẫn nhau; những vấn đề xã hội bức xúc nếu không được giải quyết triệt để sẽ là nguy cơ tiềm ẩn đối với sự ổn định về chính trị. Những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch và tình hình trong nước đặt ra cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta những yêu cầu, nhiệm vụ mới cao hơn.

Phát huy truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tiếp tục đẩy mạnh nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại đáp ứng những yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới.

1- Xây dựng đất nước gắn chặt với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX) về "Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới" tiếp tục khẳng định: xây dựng đất nước phải đi đôi với bảo vệ Tổ quốc, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và trong khi tập trung sức xây dựng đất nước, chúng ta phải coi trọng, củng cố quốc phòng - an ninh.

Trong chiến tranh ta thực hiện "toàn dân đánh giặc", ngày nay phải thực hiện "toàn dân đấu tranh xây dựng và bảo vệ Tổ quốc". Yêu cầu đó đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân phải có ý thức chính trị, ý thức tự giác trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chống lại sự phá hoại, xâm lược của bất kỳ kẻ thù nào. Vì vậy, đi đôi với việc ra sức xây dựng đất nước phải chấp hành thật tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc (bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia), giữ vững ổn định chính trị xã hội và định hướng phát triển xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế, bảo vệ nền văn hóa dân tộc. Kiên trì tiến hành cuộc đấu tranh toàn dân, toàn diện nhằm làm thất bại mọi âm mưu và hành động "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, chủ động đối phó thắng lợi với mọi tình huống có thể xảy ra.

Để thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị cần thực hiện tốt các nhiệm vụ cơ bản sau:

- Giữ vững hòa bình, ổn định để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

- Xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, kết hợp chặt chẽ với bảo vệ Đảng, bảo vệ vững chắc an ninh chính trị nội bộ.

- Nỗ lực thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế gắn với giải quyết tốt các vấn đề xã hội; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, không ngừng nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo công bằng xã hội, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đồng thời chủ động hội nhập quốc tế.

- Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa đi đôi với việc tăng cường trật tự kỷ cương, chú trọng giải quyết các vấn đề dân tộc, tôn giáo, nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

- Tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của Đảng, Nhà nước và của toàn dân; trong đó, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt.

- Đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, mở rộng hợp tác quốc tế theo tinh thần "Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển".

2- Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh

Nền tảng vững chắc của nền quốc phòng toàn dân là sự ổn định về chính trị - xã hội, sự tin tưởng của toàn dân đối với đường lối đổi mới của Đảng, sự gắn bó mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, giữa quân và dân; sự vững chắc của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Do đó, phải rất coi trọng xây dựng thế trận lòng dân. Ra sức xây dựng nền tảng chính trị, tiềm lực chính trị tinh thần ngày càng cao, tiềm lực kinh tế, tiềm lực khoa học công nghệ ngày càng mạnh, nâng cao sức khỏe và thể chất của nhân dân, tăng cường giáo dục quốc phòng.

Củng cố và phát huy sức mạnh chính trị, tinh thần của toàn dân trong tình hình mới; phải gắn chặt giữa tuyên truyền, giáo dục, khơi dậy lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lực, tự cường, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, tạo ra động lực lôi cuốn toàn dân vào các phong trào hành động cách mạng nhằm xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Trong điều kiện phức tạp hiện nay phải tiếp tục củng cố cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp quốc phòng toàn dân, đồng thời tăng cường vai trò quản lý nhà nước về quốc phòng. Xây dựng và củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở, xây dựng cơ sở vững mạnh về mọi mặt: chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh, quốc phòng và trật tự xã hội. Xây dựng lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp có chất lượng cao. Phát huy truyền thống sử dụng sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị của nền quốc phòng toàn dân, toàn diện để bảo vệ Tổ quốc.

3- Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại

Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới cần phải tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội nhân dân. Tập trung mọi nỗ lực, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu của quân đội, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở, làm cho quân đội nhân dân luôn luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.

Cán bộ và chiến sĩ trong quân đội phải ra sức học tập, rèn luyện, nâng cao mọi kiến thức, kỹ năng chuyên môn và năng lực hành độn